Là một nước có nền nông nghiệp phát triển nhưng kỹ sư nông nghiệp giỏi nghề lại thiếu, trong khi đó cử nhân ngân hàng, tài chính, kế toán... được đào tạo tràn lan và cứ ra trường là... thất nghiệp. Thực trạng này đã được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ ra tại hội nghị tổng kết năm học 2015 - 2016 được Bộ GDĐT tổ chức cuối tuần qua.
Đây cũng là điều trăn trở suốt nhiều năm qua của những người làm công tác định hướng tuyển sinh. Phóng viên Báo NTNN - Dân Việt đã có cuộc phỏng vấn với ông Nguyễn Quốc Cường (ảnh) - chuyên viên tuyển sinh của Bộ GDĐT về vấn đề này.
Thực trạng tuyển sinh của khối ngành nông, lâm, ngư tại các trường ĐH -CĐ những năm qua có gì khởi sắc không?
- Khối ngành nông, lâm, ngư được đào tạo tập trung ở một số trường ĐH lớn như, phía Bắc có Học viện Nông nghiệp Việt Nam, ĐH Lâm nghiệp, ĐH Thái Nguyên, ở miền Nam có ĐH Cần Thơ, ĐH Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh... và một số trường khác. Nhu cầu đào tạo chủ yếu phục vụ nhân lực các vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, khu vực miền Đông... Từ năm 2014 trở về trước khối ngành này mặc dù chỉ tiêu tuyển sinh rất ít, điểm chuẩn cũng thuộc "top" thấp nhất (điểm chuẩn cao nhất là hơn điểm sàn của bộ từ 2 - 3 điểm) nhưng rất ít học sinh đăng ký xét tuyển, năm nào khối ngành này cũng tuyển sinh rất khó khăn. Có những năm, một số trường buộc phải đóng cửa ngành học vì không tuyển đủ sinh viên. Bắt đầu từ năm 2015 trở lại đây, tình hình tuyển sinh bắt đầu thấy khá hơn, các em đã tập trung xét tuyển vào một số ngành như nông học, nuôi trồng thủy sản, thú y và lâm nghiệp... Tuy nhiên, lượng sinh viên ra trường vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu thị trường ở những khu vực đặc thù.
Phải chăng, cơ hội việc làm sau khi ra trường khó khăn là "rào cản" khiến các em không thiết tha với những ngành học này?
- Hoàn toàn không phải như vậy. Nhóm ngành nông, lâm, ngư hiện nay đang thuộc "top" 8 ngành học có nhu cầu nhân lực cao nhất nước và dễ xin việc nhất trong tương lai. Theo quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2020 tỷ lệ nhân lực qua đào tạo khối ngành nông, lâm, ngư sẽ tăng từ 28% năm 2015 và khoảng 50% năm 2020, như vậy đến năm 2020, nguồn nhân lực ngành nông, lâm, ngư sẽ thiếu khoảng 3,2 triệu lao động qua đào tạo. Thống kê của Bộ NNPTNT cũng cho thấy, mỗi năm cả nước cần trên 1 triệu lao động ngành nông, lâm, ngư nhưng đội ngũ cán bộ chỉ có khoảng 9% có trình độ ĐH- CĐ; 39,4% trình độ trung cấp và 9,8% sơ cấp.
Đúng như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói, mặc dù nước ta đang phát triển công nghiệp nhưng vẫn là 1 nước trụ cột là nông nghiệp. Lực lượng lao động trong lĩnh vực này hiện vẫn đang chiếm tỷ lệ lớn. Để phát triển ngành nông nghiệp chất lượng cao, hiện Nhà nước, các doanh nghiệp đã đầu tư rất lớn vào ngành này.
Vậy theo ông, nguyên nhân chính của việc "cung" vẫn chưa gặp "cầu" ở nhóm ngành này là vì đâu?
- Trước hết là tâm lý của phụ huynh và thí sinh. Ở một đất nước đi lên từ nền nông nghiệp, hình ảnh "con trâu đi trước, cái cày theo sau" vất vả với đồng ruộng đã trở thành nỗi ám ảnh của nhiều thế hệ cha mẹ. Chính vì vậy, họ lo lắng khi đầu tư cho con mình học 4 năm ĐH rồi lại phải trở về với bùn đất, ruộng đồng. Tâm lý muốn con cái "thoát ly" khỏi đồng ruộng khiến phụ huynh luôn nghĩ rằng phải định hướng cho con học những ngành gì như kế toán, tài chính, ngân hàng... ngồi bàn giấy, làm hành chính thì mới không vất vả. Điều này làm ảnh hưởng rất nhiều đến quyết định chọn trường của các thí sinh. Thực tế, có rất nhiều công việc thuộc nhóm ngành này không quá vất vả như mọi người nghĩ. Ví dụ: Nhóm ngành công nghệ sinh học, công nghệ chế biến tinh, quản lý tài nguyên thiên nhiên, công nghệ sau thu hoạch... Các ngành học này hầu hết làm việc trong các phòng thí nghiệm, viện nghiên cứu chứ không phải ra đồng, xuống ruộng như họ nghĩ.
Vậy theo ông, giải pháp nào để tìm lại sự cân bằng trong cơ cấu đào tạo của các trường ĐH để tránh tình trạng lãng phí về nguồn lực trong khi nơi thiếu vẫn thiếu?
- Vấn đề này rất nhiều năm qua trở thành nỗi trăn trở của những người làm công tác tư vấn tuyển sinh. Hiện, ngoài việc tăng cường công tác tư vấn, định hướng ngành nghề cho thí sinh, các trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực hàng năm vẫn nghiên cứu và đưa ra những cảnh báo cho thí sinh và phụ huynh về những ngành nghề đang dư thừa nhân lực, tỷ lệ thất nghiệp cao, những ngành nghề có nhu cầu cao trong 5 - 10 năm tới để các em có những quyết định đúng đắn. Ngoài ra, phân bổ chỉ tiêu 1 số ngành dư thừa nhân lực cũng đã được Bộ GDĐT hạn chế dần, ví dụ ngành sư phạm, kế toán, ngân hàng... Lời khuyên cho thí sinh là cần căn cứ vào cảnh báo về thị trường lao động để chọn ngành nghề xét tuyển vào các trường ĐH- CĐ để không rơi vào bẫy thất nghiệp sau khi ra trường./.
>> Doanh nghiệp Việt Nam có thể phát triển theo mô hình 5S của Nhật Bản?
Theo: Dân Việt
Hiển thị các bài đăng có nhãn cử nhân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cử nhân. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 8 tháng 8, 2016
Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2016
Cử nhân, thạc sĩ "đua nhau" thất nghiệp
Thống kê của Bộ Lao động Thương binh & Xã hội (LĐTB&XH), trong quý 1/2016, tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn cao ở nhóm thanh niên và lao động có trình độ cao.
Theo bản tin cập nhật thị trường số 9 do Bộ LĐTB&XH vừa công bố, trong quý 1/2016, cả nước có 1.072,3 nghìn người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp, tăng 20,7 nghìn người so với quý 4/2015 và giảm 87,5 nghìn người so với cùng kỳ năm 2015.
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,25%, tăng lên so với quý 4/2015 nhưng giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2015. So với quý 4/2015, tỷ lệ thất nghiệp của nữ giảm còn 1,95%; khu vực thành thị giảm còn 3,08% (so với 3,15% của quý 4/2015).
Trong khi đó, tỷ lệ thất nghiệp của nam và khu vực nông thôn tăng nhẹ lên tương ứng là 2,50% và 1,83%. Nhóm thanh niên (15-24 tuổi) có 540,7 nghìn người thất nghiệp, giảm 18,7 nghìn người so với quý 4/2015 nhưng vẫn chiếm đến 50,4% tổng số người thất nghiệp.
Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên là 6,63%, thấp hơn so với quý 4/2015 và cùng kỳ năm 2015. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp trong thanh niên thành thị, thanh niên từ 20-24 tuổi có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp và trình độ đại học trở lên vẫn rất đáng lo ngại tương ứng là 10,2%, 16,3% và 19,6%).
Trong số những người bị thất nghiệp, có 441,1 nghìn người có chuyên môn kỹ thuật (chiếm 41,1% tổng số người thất nghiệp), tăng 23,7 nghìn người so với quý 4/2015.
Người có chuyên môn kỹ thuật bị thất nghiệp chia theo cấp trình độ bao gồm: 190,9 nghìn người có trình độ đại học trở lên; 118,9 nghìn người trình độ cao đẳng chuyên nghiệp; 10 nghìn người trình độ cao đẳng nghề; 60,2 nghìn người trình độ trung cấp chuyên nghiệp; 17,5 nghìn người trình độ trung cấp nghề; 32,3 nghìn người trình độ sơ cấp nghề và 11,2 nghìn người có chứng chỉ nghề dưới 3 tháng.
Tỷ lệ thất nghiệp của nhóm cao đẳng chuyên nghiệp vẫn giữ ở mức cao nhất (8,07%), tiếp theo là cao đẳng nghề (4,87%) và đại học trở lên (3,93%).
Nhóm không có chuyên môn kỹ thuật, bằng/chứng chỉ vẫn duy trì tỷ lệ thất nghiệp thấp (1,75%), giảm đáng kể so với quý 4/2015 (1,93%). Tỷ lệ thất nghiệp dài hạn (trên 12 tháng) là 24,7%, tăng nhẹ so với quý trước (23,1%).
>> Khi bạn thành sếp…
Nguồn: http://doanhnghiepvn.vn/cu-nhan-thac-si-dua-nhau-that-nghiep-d71020.html
Theo bản tin cập nhật thị trường số 9 do Bộ LĐTB&XH vừa công bố, trong quý 1/2016, cả nước có 1.072,3 nghìn người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp, tăng 20,7 nghìn người so với quý 4/2015 và giảm 87,5 nghìn người so với cùng kỳ năm 2015.
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,25%, tăng lên so với quý 4/2015 nhưng giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2015. So với quý 4/2015, tỷ lệ thất nghiệp của nữ giảm còn 1,95%; khu vực thành thị giảm còn 3,08% (so với 3,15% của quý 4/2015).
Trong khi đó, tỷ lệ thất nghiệp của nam và khu vực nông thôn tăng nhẹ lên tương ứng là 2,50% và 1,83%. Nhóm thanh niên (15-24 tuổi) có 540,7 nghìn người thất nghiệp, giảm 18,7 nghìn người so với quý 4/2015 nhưng vẫn chiếm đến 50,4% tổng số người thất nghiệp.
Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên là 6,63%, thấp hơn so với quý 4/2015 và cùng kỳ năm 2015. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp trong thanh niên thành thị, thanh niên từ 20-24 tuổi có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp và trình độ đại học trở lên vẫn rất đáng lo ngại tương ứng là 10,2%, 16,3% và 19,6%).
Trong số những người bị thất nghiệp, có 441,1 nghìn người có chuyên môn kỹ thuật (chiếm 41,1% tổng số người thất nghiệp), tăng 23,7 nghìn người so với quý 4/2015.
Người có chuyên môn kỹ thuật bị thất nghiệp chia theo cấp trình độ bao gồm: 190,9 nghìn người có trình độ đại học trở lên; 118,9 nghìn người trình độ cao đẳng chuyên nghiệp; 10 nghìn người trình độ cao đẳng nghề; 60,2 nghìn người trình độ trung cấp chuyên nghiệp; 17,5 nghìn người trình độ trung cấp nghề; 32,3 nghìn người trình độ sơ cấp nghề và 11,2 nghìn người có chứng chỉ nghề dưới 3 tháng.
Tỷ lệ thất nghiệp của nhóm cao đẳng chuyên nghiệp vẫn giữ ở mức cao nhất (8,07%), tiếp theo là cao đẳng nghề (4,87%) và đại học trở lên (3,93%).
Nhóm không có chuyên môn kỹ thuật, bằng/chứng chỉ vẫn duy trì tỷ lệ thất nghiệp thấp (1,75%), giảm đáng kể so với quý 4/2015 (1,93%). Tỷ lệ thất nghiệp dài hạn (trên 12 tháng) là 24,7%, tăng nhẹ so với quý trước (23,1%).
>> Khi bạn thành sếp…
Nguồn: http://doanhnghiepvn.vn/cu-nhan-thac-si-dua-nhau-that-nghiep-d71020.html
Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2016
Cử nhân thất nghiệp đã giảm
Trong quý 4/2015, cả nước có trên 1 triệu người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp. Riêng nhóm có trình độ đại học trở lên giảm 70.000 người.
Theo bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam quý 4/2015, do Viện Khoa học Lao động và Xã hội (Bộ LĐTBXH), phối hợp với Tổng cục Thống kê công bố hôm nay (18/3) cho thấy: Thị trường lao động tiếp tục có những dấu hiệu khả quan.
So với quý 3/2015, trong quý cuối năm tỷ lệ tham gia lực lượng lao động (LLLĐ) tăng cao hơn (78,84%); số người có việc làm đạt 53,50 triệu người, tăng 332.640 người; tỷ lệ lao động làm công hưởng lương tiếp tục tăng, đạt 40,98%; tỷ lệ lao động ngành nông, lâm, thủy sản giảm nhẹ, còn 42,3%.
Trong quý này có 4,68 triệu người đang làm việc có trình độ đại học trở lên, chiếm 8,75% tổng số người đang làm việc, tăng 172.000 người so với quý 3/2015. Tuy nhiên, chỉ có 76,23% lao động làm việc phù hợp với trình độ. Có 22,48% người lao động làm công việc yêu cầu trình độ thấp hơn.
Đặc biệt, tình hình thất nghiệp được cải thiện: tỷ lệ thất nghiệp của người trong độ tuổi lao động tiếp tục giảm tiếp tục giảm, còn 2,18%; tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (15 – 24 tuổi) giảm nhẹ, còn 7,21%.
Bản tin cho biết, trong quý 4/2015, cả nước có 1.051.600 người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp, trong đó nữ chiếm 43,9%, khu vực thành thị chiếm 47,8%, nhóm thanh niên chiếm 53,2%.
So với quý 3, số người thất nghiệp đã giảm 77.100 người, trong đó nữ giảm 44.200 người, khu vực thành thị giảm 18.400 người. So với quý 4/2014, số người thất nghiệp tăng 76.400 người.
Đáng lưu ý, trong số những người thất nghiệp có 417.300 người có chuyên môn kỹ thuật (chiếm 39,7%), bao gồm: 155.500 người đại học trở lên; 115.000 cao đẳng chuyên nghiệp; 63.800 trung cấp chuyên nghiệp; 6.100 cao đẳng nghề; 15.000 trung cấp nghề; 26.900 sơ cấp nghề và 35.200 có chứng chỉ nghề dưới 3 tháng.
So với quý 3/2015, số người bị thất nghiệp có chuyên môn kỹ thuật giảm 78.000 người. Trong đó giảm ở 5 nhóm: đại học trở lên (-70.000 người); sơ cấp nghề (-18.320 người; cao đẳng nghề (-9.030 người); trung cấp nghề (8.080 người) và cao đẳng chuyên (-2.330 người). Ngược lại, số người có chuyên môn kỹ thuật tăng ở 2 nhóm: chứng chỉ nghề dưới 3 tháng (26.230 người); trung cấp chuyên nghiệp (3.540 người).
Số liệu cũng cho thấy, trong quý 4, tỷ lệ lao động của nhóm có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp cao nhất (8,16%), tiếp theo là cao đẳng nghề (3,44%), trung cấp chuyên nghiệp (3,32%) và đại học (3,30%).
Bản tin cũng nêu rõ: Trong quý 4, thu nhập bình quân tháng từ việc làm chính của lao động làm công ăn lương là 4,66 triệu đồng; của nam là 4,89 triệu đồng, nữ là 4,35 triệu đồng; của lao động thành thị là 5,45 triệu đồng và của lao động nông thôn là 4,03 triệu đồng. So với quý 3, thu nhập bình quân tháng của lao động nhóm này tăng 56.000 đồng.
PGS.TS Nguyễn Thị Lan Hương, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội nhận định, trong năm 2016, tăng trưởng kinh tế phục hồi sẽ tác động tích cực tới thị trường lao động. Trong vòng 12 tháng tới, cung lao động ước đạt 55,3 triệu người, chiếm 77,8% tổng dân số từ 15 tuổi trở lên. Về việc làm, dự báo LLLĐ có việc làm ước đạt 54,1 triệu người. Dự báo năm 2016, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động sẽ giữ mức thấp, còn 2,2%./.
>> dịch vụ thuê ngoài contact center
>> dịch vụ thuê ngoài bpo
>> Vừa du lịch vừa làm việc tại Úc
Lại Thìn/VOV.VN
Theo bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam quý 4/2015, do Viện Khoa học Lao động và Xã hội (Bộ LĐTBXH), phối hợp với Tổng cục Thống kê công bố hôm nay (18/3) cho thấy: Thị trường lao động tiếp tục có những dấu hiệu khả quan.
So với quý 3/2015, trong quý cuối năm tỷ lệ tham gia lực lượng lao động (LLLĐ) tăng cao hơn (78,84%); số người có việc làm đạt 53,50 triệu người, tăng 332.640 người; tỷ lệ lao động làm công hưởng lương tiếp tục tăng, đạt 40,98%; tỷ lệ lao động ngành nông, lâm, thủy sản giảm nhẹ, còn 42,3%.
Trong quý này có 4,68 triệu người đang làm việc có trình độ đại học trở lên, chiếm 8,75% tổng số người đang làm việc, tăng 172.000 người so với quý 3/2015. Tuy nhiên, chỉ có 76,23% lao động làm việc phù hợp với trình độ. Có 22,48% người lao động làm công việc yêu cầu trình độ thấp hơn.
Đặc biệt, tình hình thất nghiệp được cải thiện: tỷ lệ thất nghiệp của người trong độ tuổi lao động tiếp tục giảm tiếp tục giảm, còn 2,18%; tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (15 – 24 tuổi) giảm nhẹ, còn 7,21%.
Bản tin cho biết, trong quý 4/2015, cả nước có 1.051.600 người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp, trong đó nữ chiếm 43,9%, khu vực thành thị chiếm 47,8%, nhóm thanh niên chiếm 53,2%.
So với quý 3, số người thất nghiệp đã giảm 77.100 người, trong đó nữ giảm 44.200 người, khu vực thành thị giảm 18.400 người. So với quý 4/2014, số người thất nghiệp tăng 76.400 người.
Đáng lưu ý, trong số những người thất nghiệp có 417.300 người có chuyên môn kỹ thuật (chiếm 39,7%), bao gồm: 155.500 người đại học trở lên; 115.000 cao đẳng chuyên nghiệp; 63.800 trung cấp chuyên nghiệp; 6.100 cao đẳng nghề; 15.000 trung cấp nghề; 26.900 sơ cấp nghề và 35.200 có chứng chỉ nghề dưới 3 tháng.
So với quý 3/2015, số người bị thất nghiệp có chuyên môn kỹ thuật giảm 78.000 người. Trong đó giảm ở 5 nhóm: đại học trở lên (-70.000 người); sơ cấp nghề (-18.320 người; cao đẳng nghề (-9.030 người); trung cấp nghề (8.080 người) và cao đẳng chuyên (-2.330 người). Ngược lại, số người có chuyên môn kỹ thuật tăng ở 2 nhóm: chứng chỉ nghề dưới 3 tháng (26.230 người); trung cấp chuyên nghiệp (3.540 người).
Số liệu cũng cho thấy, trong quý 4, tỷ lệ lao động của nhóm có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp cao nhất (8,16%), tiếp theo là cao đẳng nghề (3,44%), trung cấp chuyên nghiệp (3,32%) và đại học (3,30%).
Bản tin cũng nêu rõ: Trong quý 4, thu nhập bình quân tháng từ việc làm chính của lao động làm công ăn lương là 4,66 triệu đồng; của nam là 4,89 triệu đồng, nữ là 4,35 triệu đồng; của lao động thành thị là 5,45 triệu đồng và của lao động nông thôn là 4,03 triệu đồng. So với quý 3, thu nhập bình quân tháng của lao động nhóm này tăng 56.000 đồng.
PGS.TS Nguyễn Thị Lan Hương, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội nhận định, trong năm 2016, tăng trưởng kinh tế phục hồi sẽ tác động tích cực tới thị trường lao động. Trong vòng 12 tháng tới, cung lao động ước đạt 55,3 triệu người, chiếm 77,8% tổng dân số từ 15 tuổi trở lên. Về việc làm, dự báo LLLĐ có việc làm ước đạt 54,1 triệu người. Dự báo năm 2016, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động sẽ giữ mức thấp, còn 2,2%./.
>> dịch vụ thuê ngoài contact center
>> dịch vụ thuê ngoài bpo
>> Vừa du lịch vừa làm việc tại Úc
Lại Thìn/VOV.VN
Thứ Hai, 4 tháng 1, 2016
Vì sao cử nhân, thạc sỹ ở nhóm thất nghiệp cao nhất?
Theo Tổng cục Thống kê, trong khi số lượng người thất nghiệp nói chung đang có xu hướng giảm thì số lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên không có việc làm lại có xu hướng tăng và trở thành nhóm có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất.
Hơn 200.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp
Tổng cục Thống kê cho biết, chỉ riêng trong quý III/2015, đã có thêm hơn 50.000 người trình độ đại học, cao đẳng thất nghiệp, nâng tổng số cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp của cả nước lên hơn 225.500 người và trở thành nhóm có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất. So với 6 tháng đầu năm 2015, nhóm trình độ đại học trở lên thất nghiệp tăng từ 4,6% lên 4,9%. Đây là con số tăng mạnh so với các năm 2014, 2013.
Những năm trở lại đây, tỷ lệ lao động trình độ đại học, trên đại học thất nghiệp mỗi lần được công bố đều khiến dư luận hết sức “sửng sốt”, dù đáng báo động nhưng dường như vẫn “rơi tự do”, mỗi lúc một tăng. Đánh giá về con số nói trên, PGS Trần Xuân Nhĩ - nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT cho rằng, có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, nhưng đầu tiên phải kể đến đó là do tâm lý chung của người dân Việt Nam là thích học đại học và học lên cao, không cần biết có cơ hội xin việc làm hay không. Nghĩa là học cứ học, dù chẳng biết học để làm gì, làm việc ở đâu?!
Còn PGS Văn Như Cương - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Trường THPT Lương Thế Vinh (Hà Nội) cũng cho rằng, những năm gần đây dù đất nước có nhiều đổi mới, phát triển, song nước ta vẫn luôn tồn tại phong trào hiếu học đến lạc hậu, học vì hư danh. Ai cũng cố cho mình tấm bằng cử nhân, thạc sĩ, chủ yếu để “oai”, nở mày nở mặt với những người xung quanh chứ không phải học để lập nghiệp, để có tương lai tốt. Đây cũng là lý do dẫn đến thực trạng có rất nhiều trường dạy nghề, có tỷ lệ việc làm cao, lương cao nhưng lại rất ít người học, dẫn đến nhiều trường không tuyển đủ học viên.
Lấy ví dụ trong hoạt động tuyển chọn nhân lực cho nhà trường, PGS Văn Như Cương chia sẻ: “Tôi đã từng gặp và phỏng vấn rất nhiều cử nhân, thạc sỹ, có nhiều bạn thực sự có tài, nhưng cũng rất nhiều bạn “có vấn đề”. Có người “đi” phong bì lúc nộp hồ sơ, có người bằng giỏi, rất tự tin nhưng chỉ cần hỏi ngoài sách vở chút là lúng túng không biết trả lời ra sao. Do đó, chuyện bằng cấp và đáp ứng chuyên môn thực tế vẫn còn một khoảng cách nhất định”.
Đi học để “giết thời gian”?
Bên cạnh tâm lý sính đại học, thạc sỹ của người dân, còn phải kể đến việc đào tạo tràn lan, không sát với nhu cầu nhân lực của đất nước. PGS Trần Xuân Nhĩ cho hay, hiện chương trình giáo dục phổ thông không đảm bảo được sự phân luồng, định hướng nghề cho học sinh. Nên nhiều học sinh không biết được nhu cầu xã hội đang thiếu ngành gì và thừa ngành gì để đăng ký theo học mà chỉ học theo sở thích cá nhân và gia đình. Bên cạnh đó có quá nhiều ngành đào tạo với số lượng lớn, mất cân đối cũng là nguyên nhân dẫn đến chỗ thiếu hụt, chỗ dư thừa lao động.
Về thực trạng học đại học, thạc sỹ xong ra trường vẫn thất nghiệp dù có bằng khá, bằng giỏi, PGS Trần Xuân Nhĩ cho biết: “Những cử nhân, thạc sỹ thất nghiệp đa phần là không đáp ứng được chuyên môn của các nhà tuyển dụng. Do đó để đáp ứng yêu cầu công việc, cũng phải học lại, học các kiến thức hữu dụng, khả năng thích nghi đối với công việc. Nhiều cử nhân thất nghiệp lại chọn cách “giết thời gian” bằng đi học thạc sỹ. Chương trình bậc thạc sỹ hiện tại chủ yếu học lý thuyết, chưa có tính thực hành và nghiên cứu sâu. Do đó, dù có học xong thạc sỹ cũng vẫn cứ thất nghiệp dài dài, cũng bởi thiếu tính thực hành và chuyên sâu”.
Cũng theo PGS Văn Như Cương: “Vấn đề hiện nay vẫn nằm ở chỗ chúng ta chưa có một thống kê, dự báo nguồn nhân lực cụ thể, nên người học “mù tịt” thông tin về các ngành nghề và đăng ký học theo cảm tính, đua nhau học ngành “hot”... Cần có dự báo nguồn nhân lực, giúp người học tự đưa ra quyết định lựa chọn phù hợp, chọn đúng ngành, đúng sở trường và đúng nhu cầu của xã hội thì hoàn toàn dễ dàng có công việc phù hợp”.
Theo các nhà hoạch định kinh tế, nhân lực, việc phân luồng trong quá trình tuyển sinh chưa dựa trên nhu cầu của thị trường lao động. Các trường đại học đua nhau mọc lên, lấy điểm rất thấp. Và đương nhiên, ít ai lại có tâm lý đi học hệ thấp hơn. Hệ lụy là đào tạo trình độ chưa tới, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường thực tế. Bên cạnh đó, người lao động trong nước cũng chưa chủ động trong việc xác định nhu cầu việc làm. Do đó, bản thân họ nên sử dụng thông tin thị trường lao động để điều chỉnh phù hợp với tín hiệu thị trường.
>> Cơ hội và nhiều thách thức với lao động Việt Nam
Hơn 200.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp
Tổng cục Thống kê cho biết, chỉ riêng trong quý III/2015, đã có thêm hơn 50.000 người trình độ đại học, cao đẳng thất nghiệp, nâng tổng số cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp của cả nước lên hơn 225.500 người và trở thành nhóm có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất. So với 6 tháng đầu năm 2015, nhóm trình độ đại học trở lên thất nghiệp tăng từ 4,6% lên 4,9%. Đây là con số tăng mạnh so với các năm 2014, 2013.
Những năm trở lại đây, tỷ lệ lao động trình độ đại học, trên đại học thất nghiệp mỗi lần được công bố đều khiến dư luận hết sức “sửng sốt”, dù đáng báo động nhưng dường như vẫn “rơi tự do”, mỗi lúc một tăng. Đánh giá về con số nói trên, PGS Trần Xuân Nhĩ - nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT cho rằng, có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, nhưng đầu tiên phải kể đến đó là do tâm lý chung của người dân Việt Nam là thích học đại học và học lên cao, không cần biết có cơ hội xin việc làm hay không. Nghĩa là học cứ học, dù chẳng biết học để làm gì, làm việc ở đâu?!
Còn PGS Văn Như Cương - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Trường THPT Lương Thế Vinh (Hà Nội) cũng cho rằng, những năm gần đây dù đất nước có nhiều đổi mới, phát triển, song nước ta vẫn luôn tồn tại phong trào hiếu học đến lạc hậu, học vì hư danh. Ai cũng cố cho mình tấm bằng cử nhân, thạc sĩ, chủ yếu để “oai”, nở mày nở mặt với những người xung quanh chứ không phải học để lập nghiệp, để có tương lai tốt. Đây cũng là lý do dẫn đến thực trạng có rất nhiều trường dạy nghề, có tỷ lệ việc làm cao, lương cao nhưng lại rất ít người học, dẫn đến nhiều trường không tuyển đủ học viên.
Lấy ví dụ trong hoạt động tuyển chọn nhân lực cho nhà trường, PGS Văn Như Cương chia sẻ: “Tôi đã từng gặp và phỏng vấn rất nhiều cử nhân, thạc sỹ, có nhiều bạn thực sự có tài, nhưng cũng rất nhiều bạn “có vấn đề”. Có người “đi” phong bì lúc nộp hồ sơ, có người bằng giỏi, rất tự tin nhưng chỉ cần hỏi ngoài sách vở chút là lúng túng không biết trả lời ra sao. Do đó, chuyện bằng cấp và đáp ứng chuyên môn thực tế vẫn còn một khoảng cách nhất định”.
Đi học để “giết thời gian”?
Bên cạnh tâm lý sính đại học, thạc sỹ của người dân, còn phải kể đến việc đào tạo tràn lan, không sát với nhu cầu nhân lực của đất nước. PGS Trần Xuân Nhĩ cho hay, hiện chương trình giáo dục phổ thông không đảm bảo được sự phân luồng, định hướng nghề cho học sinh. Nên nhiều học sinh không biết được nhu cầu xã hội đang thiếu ngành gì và thừa ngành gì để đăng ký theo học mà chỉ học theo sở thích cá nhân và gia đình. Bên cạnh đó có quá nhiều ngành đào tạo với số lượng lớn, mất cân đối cũng là nguyên nhân dẫn đến chỗ thiếu hụt, chỗ dư thừa lao động.
Về thực trạng học đại học, thạc sỹ xong ra trường vẫn thất nghiệp dù có bằng khá, bằng giỏi, PGS Trần Xuân Nhĩ cho biết: “Những cử nhân, thạc sỹ thất nghiệp đa phần là không đáp ứng được chuyên môn của các nhà tuyển dụng. Do đó để đáp ứng yêu cầu công việc, cũng phải học lại, học các kiến thức hữu dụng, khả năng thích nghi đối với công việc. Nhiều cử nhân thất nghiệp lại chọn cách “giết thời gian” bằng đi học thạc sỹ. Chương trình bậc thạc sỹ hiện tại chủ yếu học lý thuyết, chưa có tính thực hành và nghiên cứu sâu. Do đó, dù có học xong thạc sỹ cũng vẫn cứ thất nghiệp dài dài, cũng bởi thiếu tính thực hành và chuyên sâu”.
Cũng theo PGS Văn Như Cương: “Vấn đề hiện nay vẫn nằm ở chỗ chúng ta chưa có một thống kê, dự báo nguồn nhân lực cụ thể, nên người học “mù tịt” thông tin về các ngành nghề và đăng ký học theo cảm tính, đua nhau học ngành “hot”... Cần có dự báo nguồn nhân lực, giúp người học tự đưa ra quyết định lựa chọn phù hợp, chọn đúng ngành, đúng sở trường và đúng nhu cầu của xã hội thì hoàn toàn dễ dàng có công việc phù hợp”.
Theo các nhà hoạch định kinh tế, nhân lực, việc phân luồng trong quá trình tuyển sinh chưa dựa trên nhu cầu của thị trường lao động. Các trường đại học đua nhau mọc lên, lấy điểm rất thấp. Và đương nhiên, ít ai lại có tâm lý đi học hệ thấp hơn. Hệ lụy là đào tạo trình độ chưa tới, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường thực tế. Bên cạnh đó, người lao động trong nước cũng chưa chủ động trong việc xác định nhu cầu việc làm. Do đó, bản thân họ nên sử dụng thông tin thị trường lao động để điều chỉnh phù hợp với tín hiệu thị trường.
>> Cơ hội và nhiều thách thức với lao động Việt Nam
Quang Anh/Báo Gia đình & Xã hội
Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2015
Cử nhân, thạc sĩ đua nhau thất nghiệp
Theo bà Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội, tỷ lệ lao động trình độ đại học thất nghiệp tăng do tuyển sinh quá nhiều so với nhu cầu lao động.
Chúng ta có một truyền thống hiếu học từ ngàn đời, đó là vốn quý của dân tộc, góp phần hun đúc nên nguyên khí quốc gia. Tuy nhiên, trước đòi hỏi của thời cuộc, trước thực trạng đáng lo ngại của việc dạy và học hiện nay, nhà giáo lão thành Văn Như Cương đã phải thốt lên: “Hiếu học là tốt nhưng mục tiêu của hiếu học lại chạy theo bằng cấp thì đó là sự hiếu học lạc hậu!”.
Nền hiếu học lạc hậu?
199.400 cử nhân, sau đại học thất nghiệp. Con số này khiến không ít người giật mình. Người học vẫn muốn lựa chọn đại học (ĐH), học xong không xin được việc nhưng vẫn học. Đó là phải chăng đang là thực trạng của một xã hội “hiếu học lạc hậu”...
Học một đằng, làm một nẻo
Lê Thị Lương, quê Nam Định, tốt nghiệp khoa Tài chính - Ngân hàng, Học viện Hậu cần. Công việc hiện nay của Lương là làm cho một công ty du lịch tại quận Cầu Giấy, Hà Nội. Lương cho biết, công việc hiện tại không có mối liên quan với ngành đã học, vì không xin được việc đúng ngành nên em chọn công việc này.
Nhưng điều may mắn nhất của Lương là trong quá trình ngồi trên giảng đường ĐH, Lương đã chủ động đi học thêm ngoại ngữ. Đây chính là chìa khóa để Lương có được công việc hiện nay. Học xong ĐH, Lương không thể xin việc tại một ngân hàng nào đó, cũng không thể về quê vì không biết phải làm gì. Chính vì vậy, có một công việc tại Hà Nội là điều may mắn. Tương lai tới, em chưa có ý định rõ ràng.
Cùng tốt nghiệp ĐH, nhưng với bằng cử nhân Công nghệ thông tin của Viện ĐH Mở, Hà Nội, Nguyễn Thu Lan, nhà ở Xa La, Hà Đông, Hà Nội lại ở nhà chăm con và làm công việc nội trợ. Lý do Lan đưa ra là khi ra trường rất chật vật xin việc vì là nữ. Vào được một doanh nghiệp công nghệ thông tin làm được thời gian ngắn, Lan bỏ việc, lấy chồng.
Chồng đi xuất khẩu lao động nước ngoài, Lan ở nhà sinh con một mình nên quyết định không đi làm, ở nhà chăm con. Sắp tới, chồng Lan hết thời hạn lao động, cô dự định sẽ đi học một khóa học về thiết kế đồ họa rồi về tiếp quản hiệu ảnh của gia đình.
Sau ba năm đi làm tiếp thị tại một công ty kinh doanh qua mạng, Quỳnh Mai (quê huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) cho biết, công việc hiện tại không liên quan ngành mà cô đã theo học tới 4 năm.
“Quá trình đi làm kinh doanh đã cho thấy em chọn nhầm nghề! Bây giờ em là phó phòng kinh doanh và chắc chắn sẽ học thêm về kinh tế chứ không quay lại ngành sư phạm. Vừa họp lớp tuần trước, bạn bè trường sư phạm rất nhiều người không làm theo ngành đã học”, Mai chia sẻ.
Tại một gara sửa chữa ô tô trên đường Phạm Hùng, Hà Nội, anh Trần Quốc Phong (quê Thanh Hóa) mở đầu câu chuyện về nghề nghiệp của mình với chúng tôi khá cởi mở. Sau 12 tháng làm tại cơ sở kinh doanh - sửa chữa ô tô, giờ đây tay nghề của Phong đã tiến bộ rất nhiều.
“Em là kỹ sư chế tạo máy nhưng bây giờ đi làm nội thất xe hơi là chính. Về quê nói làm nội thất xe ôtô nhiều người cứ tròn mắt hỏi lại tưởng em làm viện này, bộ kia”, Phong chia sẻ.
Thất nghiệp gia tăng
Báo cáo mới nhất của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Bộ LĐ-TB&XH cho thấy, quý 2/2015, tỷ lệ thất nghiệp chung đã giảm nhưng số lượng người có trình độ đại học, sau đại học thất nghiệp tăng cao, hơn 199.400 người (tăng 22.000 người so với quý đầu).
Theo số liệu thống kê lao động đã qua đào tạo cho thấy, trừ nhóm trình độ cao đẳng có tỷ lệ thất nghiệp giảm so với quý 1/2015 (từ 7,13% xuống còn 6,56%), tỷ lệ thất nghiệp của các nhóm trình độ chuyên môn kỹ thuật khác đều tăng.
Cụ thể, nhóm có trình độ đại học trở lên tăng từ 3,92% lên 4,6%; trình độ trung cấp tăng từ 3,66% lên 4,49% và trình độ sơ cấp tăng từ 2,05% lên 2,71%.
Trao đổi với PV về nguyên nhân vì sao tình trạng sinh viên ra trường thất nghiệp ngày càng nhiều, GS Đào Trọng Thi - Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cho rằng, có 3 lý do.
Thứ nhất, quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực đào tạo ra chưa đáp ứng được nhu cầu, thực tế nhiều doanh nghiệp cần tuyển người nhưng không tuyển được.
Thứ ba, quy hoạch nhân lực đào tạo không phải chỉ là số lượng mà còn phải đảm bảo hợp lý về cơ cấu vùng miền, ngành nghề, trình độ, chất lượng.
Có thể thấy, lao động tốt nghiệp đại học thất nghiệp nhiều nhưng tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, trong khi nhiều vùng sâu vùng xa thiếu người có trình độ lại không tuyển được.
Còn bà Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội cho rằng, tỷ lệ lao động trình độ đại học thất nghiệp tăng do quy mô tuyển sinh đại học quá cao so với nhu cầu lao động. Đây cũng là nguyên nhân chính khiến số lao động có chuyên môn kỹ thuật, đặc biệt là trình độ đại học gia tăng.
> Tại sao nhà tuyển dụng nên tuyển ứng viên có kinh nghiệm bán hàng?
Chúng ta có một truyền thống hiếu học từ ngàn đời, đó là vốn quý của dân tộc, góp phần hun đúc nên nguyên khí quốc gia. Tuy nhiên, trước đòi hỏi của thời cuộc, trước thực trạng đáng lo ngại của việc dạy và học hiện nay, nhà giáo lão thành Văn Như Cương đã phải thốt lên: “Hiếu học là tốt nhưng mục tiêu của hiếu học lại chạy theo bằng cấp thì đó là sự hiếu học lạc hậu!”.
Nền hiếu học lạc hậu?
199.400 cử nhân, sau đại học thất nghiệp. Con số này khiến không ít người giật mình. Người học vẫn muốn lựa chọn đại học (ĐH), học xong không xin được việc nhưng vẫn học. Đó là phải chăng đang là thực trạng của một xã hội “hiếu học lạc hậu”...
Học một đằng, làm một nẻo
Lê Thị Lương, quê Nam Định, tốt nghiệp khoa Tài chính - Ngân hàng, Học viện Hậu cần. Công việc hiện nay của Lương là làm cho một công ty du lịch tại quận Cầu Giấy, Hà Nội. Lương cho biết, công việc hiện tại không có mối liên quan với ngành đã học, vì không xin được việc đúng ngành nên em chọn công việc này.
Nhưng điều may mắn nhất của Lương là trong quá trình ngồi trên giảng đường ĐH, Lương đã chủ động đi học thêm ngoại ngữ. Đây chính là chìa khóa để Lương có được công việc hiện nay. Học xong ĐH, Lương không thể xin việc tại một ngân hàng nào đó, cũng không thể về quê vì không biết phải làm gì. Chính vì vậy, có một công việc tại Hà Nội là điều may mắn. Tương lai tới, em chưa có ý định rõ ràng.
Cùng tốt nghiệp ĐH, nhưng với bằng cử nhân Công nghệ thông tin của Viện ĐH Mở, Hà Nội, Nguyễn Thu Lan, nhà ở Xa La, Hà Đông, Hà Nội lại ở nhà chăm con và làm công việc nội trợ. Lý do Lan đưa ra là khi ra trường rất chật vật xin việc vì là nữ. Vào được một doanh nghiệp công nghệ thông tin làm được thời gian ngắn, Lan bỏ việc, lấy chồng.
Chồng đi xuất khẩu lao động nước ngoài, Lan ở nhà sinh con một mình nên quyết định không đi làm, ở nhà chăm con. Sắp tới, chồng Lan hết thời hạn lao động, cô dự định sẽ đi học một khóa học về thiết kế đồ họa rồi về tiếp quản hiệu ảnh của gia đình.
Sau ba năm đi làm tiếp thị tại một công ty kinh doanh qua mạng, Quỳnh Mai (quê huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) cho biết, công việc hiện tại không liên quan ngành mà cô đã theo học tới 4 năm.
“Quá trình đi làm kinh doanh đã cho thấy em chọn nhầm nghề! Bây giờ em là phó phòng kinh doanh và chắc chắn sẽ học thêm về kinh tế chứ không quay lại ngành sư phạm. Vừa họp lớp tuần trước, bạn bè trường sư phạm rất nhiều người không làm theo ngành đã học”, Mai chia sẻ.
Tại một gara sửa chữa ô tô trên đường Phạm Hùng, Hà Nội, anh Trần Quốc Phong (quê Thanh Hóa) mở đầu câu chuyện về nghề nghiệp của mình với chúng tôi khá cởi mở. Sau 12 tháng làm tại cơ sở kinh doanh - sửa chữa ô tô, giờ đây tay nghề của Phong đã tiến bộ rất nhiều.
“Em là kỹ sư chế tạo máy nhưng bây giờ đi làm nội thất xe hơi là chính. Về quê nói làm nội thất xe ôtô nhiều người cứ tròn mắt hỏi lại tưởng em làm viện này, bộ kia”, Phong chia sẻ.
Thất nghiệp gia tăng
Báo cáo mới nhất của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Bộ LĐ-TB&XH cho thấy, quý 2/2015, tỷ lệ thất nghiệp chung đã giảm nhưng số lượng người có trình độ đại học, sau đại học thất nghiệp tăng cao, hơn 199.400 người (tăng 22.000 người so với quý đầu).
Theo số liệu thống kê lao động đã qua đào tạo cho thấy, trừ nhóm trình độ cao đẳng có tỷ lệ thất nghiệp giảm so với quý 1/2015 (từ 7,13% xuống còn 6,56%), tỷ lệ thất nghiệp của các nhóm trình độ chuyên môn kỹ thuật khác đều tăng.
Cụ thể, nhóm có trình độ đại học trở lên tăng từ 3,92% lên 4,6%; trình độ trung cấp tăng từ 3,66% lên 4,49% và trình độ sơ cấp tăng từ 2,05% lên 2,71%.
Trao đổi với PV về nguyên nhân vì sao tình trạng sinh viên ra trường thất nghiệp ngày càng nhiều, GS Đào Trọng Thi - Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cho rằng, có 3 lý do.
Thứ nhất, quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực đào tạo ra chưa đáp ứng được nhu cầu, thực tế nhiều doanh nghiệp cần tuyển người nhưng không tuyển được.
Thứ ba, quy hoạch nhân lực đào tạo không phải chỉ là số lượng mà còn phải đảm bảo hợp lý về cơ cấu vùng miền, ngành nghề, trình độ, chất lượng.
Có thể thấy, lao động tốt nghiệp đại học thất nghiệp nhiều nhưng tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, trong khi nhiều vùng sâu vùng xa thiếu người có trình độ lại không tuyển được.
Còn bà Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội cho rằng, tỷ lệ lao động trình độ đại học thất nghiệp tăng do quy mô tuyển sinh đại học quá cao so với nhu cầu lao động. Đây cũng là nguyên nhân chính khiến số lao động có chuyên môn kỹ thuật, đặc biệt là trình độ đại học gia tăng.
> Tại sao nhà tuyển dụng nên tuyển ứng viên có kinh nghiệm bán hàng?
Theo Hoa Ban/Tiền Phong
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)